(ĐNĐT) – Chủ tịch UBND thành phố Văn Hữu Chiến vừa ký ban hành quy định về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố, có hiệu lực từ ngày 16-10-2012, thay thế quyết định số 21/2010/QĐ-UBND ngày 19-7-2010 của UBND thành phố.
Theo đó, mức trợ cấp hằng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã hội và mức trợ giúp đột xuất cho cá nhân, hộ gia đình tại cộng đồng do xã, phường quản lý và hỗ trợ kinh phí cho cán bộ chi trả như sau:
Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc thuộc diện nghèo… từ 18 tháng tuổi trở lên được hưởng trợ cấp 210.000 đồng/tháng; dưới 18 tháng tuổi, từ 18 tháng tuổi trở lên nhưng bị tàn tật hoặc bị nhiễm HIV/AIDS được hưởng trợ cấp 310.000 đồng/tháng; dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS được hưởng trợ cấp 410.000 đồng/tháng.
Người cao tuổi cô đơn có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không nơi nương tựa hoặc thuộc diện hộ nghèo… dưới 80 tuổi được hưởng trợ cấp 210.000 đồng/tháng; dưới 80 tuổi bị tàn tật nặng hoặc từ 80 tuổi trở lên được hưởng 310.000 đồng/tháng; từ 80 tuổi trở lên bị tàn tật nặng được hưởng 410.000 đồng/tháng.
Người cao tuổi từ 80-89 tuổi không có lương hưu hoặc không có trợ cấp BHXH; hoặc từ 90-94 tuổi được trợ cấp 210.000 đồng/tháng.
Người cao tuổi từ 95-99 tuổi được hưởng trợ cấp 230.000 đồng/tháng và từ 100 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp 350.000 đồng/tháng.
Người tàn tật nặng không có khả năng lao động được hưởng trợ cấp 210.000 đồng/tháng, không có khả năng tự phục vụ được hưởng trợ cấp 410.000 đồng/tháng.
Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; và người bị nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc thuộc diện hộ nghèo được hưởng trợ cấp 310.000 đồng/tháng.
Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (mức trợ cấp tính theo số trẻ nhận nuôi dưỡng) và hộ gia đình có từ 2 người trở lên bị tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ, người mắc bệnh tâm thần được hưởng các mức trợ cấp từ 410.000 – 830.000 đồng/tháng.
Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo đang nuôi con dưới 16 tuổi (trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi) được hưởng các mức trợ cấp từ 210.000 đến 410.000 đồng/tháng.
Ngoài được hưởng khoản trợ cấp hằng tháng theo quy định, các đối tượng bảo trợ xã hội còn được cấp thẻ BHYT miễn phí và hưởng thêm các khoản hỗ trợ như được miễn học phí, học nghề và các khoản đóng góp của nhà trường, được hỗ trợ mua sách vở, đồ dùng học tập khi học văn hóa, học nghề; khi chết được hỗ trợ kinh phí mai táng mức 3.000.000 đồng/người.
Mức trợ cấp đột xuất tại cộng đồng áp dụng đối với cá nhân, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng được quy định cụ thể: hộ gia đình có người chết, mất tích là 4.500.000 đồng/người; có người bị thương nặng phải cấp cứu hoặc phải điều trị nội trú tại cơ sở y tế là 1.500.000 đồng/người; nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng hoặc phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét là 6.000.000 đồng/hộ, nếu sống ở vùng khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định là 7.000.000đồng/hộ. Đối với cá nhân, mức trợ giúp cứu đói là 15 kg gạo/người/ tháng, được hưởng từ 1-3 tháng.
Mức trợ giúp người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc là 1.500.000đồng/người, bị chết mà gia đình không biết để mai táng là 3.000.000đồng/người; đối với người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ giải quyết là 15.000 đồng/người/ngày, được hưởng không quá 30 ngày.
Trường hợp các đối tượng sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Sở LĐ TBXH quản lý sẽ được trợ cấp tiền ăn với mức 500.000 đồng/tháng, ngoài ra còn có tiền quần áo, chăn màn, giày dép… Đối với các em học sinh còn được hỗ trợ 500.000 đồng/năm để mua sách vở, đồ dùng học tập.
Ngoài ra, UBND thành phố cũng quy định mức hỗ trợ kinh phí cho cán bộ chi trả ở cấp xã, phường và công tác quản lý ở quận, huyện để thực hiện chi trả trợ cấp bảo trợ xã hội với mức hỗ trợ cho xã, phường là 0,4%; quận, huyện là 0,15% so với tổng số tiền trực tiếp chi trả. Nếu xã, phường nào thấp hơn 150.000 đồng/tháng thì chi đủ 150.000 đồng/tháng. Nếu xã, phường nào vượt quá 400.000 đồng/tháng thì chi 400.000 đồng/tháng.
Như Quỳnh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét